Kinh nghiệm phát triển Khu hợp tác biên giới quốc tế Khorgos giữa Trung Quốc và Kazakhstan
Trong bối cảnh thương mại qua biên giới và liên kết kinh tế khu vực ngày càng phát triển, nhiều quốc gia đã chú trọng xây dựng các mô hình hợp tác kinh tế tại khu vực biên giới nhằm khai thác lợi thế cửa khẩu và tăng cường kết nối thương mại, dịch vụ. Khu hợp tác biên giới quốc tế Khorgos giữa Trung Quốc và Kazakhstan là một mô hình kết hợp thương mại, logistics, dịch vụ, du lịch và đầu tư với cơ chế quản lý biên giới đặc thù. Quá trình phát triển Khorgos cung cấp nhiều kinh nghiệm thực tiễn có giá trị tham khảo đối với các địa phương biên giới.

Khu hợp tác biên giới quốc tế Khorgos giữa Trung Quốc và Kazakhstan. Ảnh sưu tầm
Khu hợp tác biên giới quốc tế Trung Quốc – Kazakhstan Khorgos được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa Chính phủ hai nước từ đầu những năm 2000, sau đó được cụ thể hóa bằng các thỏa thuận song phương, quy hoạch và đầu tư hạ tầng. Khu hợp tác có tổng diện tích khoảng 5,6 km², trong đó phần thuộc Trung Quốc khoảng 3,43 km² và phần thuộc Kazakhstan khoảng 2,17 km². Phía Trung Quốc xác định đây là khu hợp tác kinh tế qua biên giới đầu tiên được xây dựng với một quốc gia khác. Khorgos không chỉ thực hiện chức năng cửa khẩu mà được tổ chức thành một không gian hợp tác kinh tế hai bên biên giới, nơi các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch, hội nghị, triển lãm được triển khai theo cơ chế tạo thuận lợi riêng. Qua đó, khu vực biên giới không chỉ là nơi thực hiện thủ tục xuất nhập cảnh, xuất nhập khẩu mà từng bước trở thành địa điểm trực tiếp phát sinh các hoạt động kinh tế.
Năm 2025, Khu hợp tác biên giới quốc tế Khorgos ghi nhận 9,991 triệu lượt người ra, vào, tăng 33,3% so với năm 2024 và đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Bước sang năm 2026, tính đến ngày 13/8/2026, số lượt người ra, vào Khu hợp tác đạt khoảng 5,12 triệu lượt; trong mùa du lịch, bình quân đạt trên 30.000 lượt/ngày.
Cơ chế quản lý đặc trưng của Khorgos là mô hình “tuyến thứ nhất mở, tuyến thứ hai quản lý”. “Tuyến thứ nhất” là đường biên giới giữa phần khu hợp tác thuộc Trung Quốc và phần thuộc Kazakhstan; “tuyến thứ hai” là ranh giới giữa khu hợp tác với khu vực nội địa của mỗi nước. Tại “tuyến thứ nhất”, người, hàng hóa và phương tiện được tạo thuận lợi để qua lại, giao dịch trong phạm vi khu hợp tác theo các điều kiện riêng, nhưng vẫn chịu sự kiểm tra cần thiết về xuất nhập cảnh, hải quan, kiểm dịch và an ninh. Khi người, hàng hóa hoặc phương tiện từ khu hợp tác đi qua “tuyến thứ hai” để vào nội địa Trung Quốc hoặc Kazakhstan, các quy định quản lý thông thường của mỗi nước tiếp tục được áp dụng. Cách tổ chức này vừa tạo ra không gian giao dịch tương đối thuận lợi tại khu vực biên giới, vừa bảo đảm quyền quản lý của mỗi quốc gia đối với lãnh thổ và thị trường nội địa.
Về chính sách xuất nhập cảnh, công dân Trung Quốc, Kazakhstan và công dân nước thứ ba có thể vào khu hợp tác bằng hộ chiếu, giấy thông hành hoặc giấy tờ xuất nhập cảnh hợp lệ theo quy định; thời gian lưu trú trong một lần có thể tối đa 30 ngày. Một số thủ tục kiểm tra được ứng dụng công nghệ, hệ thống kiểm tra tự động nhằm rút ngắn thời gian ra, vào khu vực. Cơ chế này chỉ áp dụng trong phạm vi khu hợp tác; trường hợp muốn tiếp tục đi vào nội địa nước bên kia, người xuất nhập cảnh vẫn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo pháp luật của nước tiếp nhận. Có thể xem đây là một “không gian trung gian” về xuất nhập cảnh, tạo điều kiện để thương nhân, khách du lịch và người tiêu dùng tiếp cận các hoạt động thương mại, dịch vụ hai bên biên giới mà không nhất thiết phải nhập cảnh sâu vào lãnh thổ nước đối diện.
Về thuế và quản lý hàng hóa, phía Trung Quốc phân biệt giữa hàng hóa lưu chuyển trong khu hợp tác và hàng hóa từ khu hợp tác đi vào thị trường nội địa. Một số vật tư, thiết bị phục vụ xây dựng và vận hành khu hợp tác được áp dụng chính sách miễn hoặc ưu đãi thuế theo phạm vi được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Khi hàng hóa từ khu hợp tác đi vào nội địa Trung Quốc, về nguyên tắc phải thực hiện thủ tục hải quan, nghĩa vụ thuế và các yêu cầu quản lý chuyên ngành tương ứng.Đối với hàng hóa phục vụ tiêu dùng cá nhân, chính sách ưu đãi được thể hiện thông qua cơ chế mua sắm miễn thuế. Theo quy định áp dụng tại Khorgos, người từ khu hợp tác đi vào nội địa Trung Quốc được mang theo trong một ngày lượng hàng hóa có giá trị miễn thuế tối đa 8.000 nhân dân tệ, với điều kiện thuộc phạm vi hành lý, hàng hóa cá nhân hợp lý và đáp ứng quy định của cơ quan hải quan. Một số mặt hàng như thuốc lá, đồ uống có cồn, động vật, thực vật và sản phẩm liên quan vẫn chịu hạn mức, kiểm dịch hoặc các quy định quản lý riêng.
Khu hợp tác Khorgos còn được kết nối với Khu bảo thuế tổng hợp và hệ thống logistics phía sau cửa khẩu. Hai không gian này có chức năng và cơ chế quản lý khác nhau nhưng hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình vận hành. Hàng hóa từ nước ngoài đưa vào khu bảo thuế có thể được áp dụng chế độ bảo thuế hoặc chính sách thuế tương ứng; hàng hóa từ nội địa Trung Quốc đưa vào khu vực này được áp dụng một số chính sách đối với hàng xuất khẩu; khi hàng hóa được đưa từ khu bảo thuế vào thị trường nội địa thì phải thực hiện thủ tục nhập khẩu và nghĩa vụ thuế theo quy định.
Việc bố trí khu hợp tác thương mại tại khu vực biên giới cùng với khu bảo thuế, kho bãi, trung tâm logistics và các tuyến vận tải quốc tế phía sau tạo điều kiện hình thành chuỗi liên kết tương đối hoàn chỉnh. Hàng hóa có thể được lưu kho, phân loại, đóng gói, hoàn thiện thủ tục, sau đó chuyển đến khu thương mại để trưng bày, tiêu thụ hoặc tiếp tục vận chuyển sang thị trường khác. Sự kết nối giữa khu hợp tác với hệ thống đường bộ, đường sắt và các tuyến vận tải Trung Quốc – Trung Á – châu Âu góp phần nâng cao hiệu quả lưu chuyển hàng hóa và khai thác lợi thế vị trí cửa khẩu.
Thực tiễn của Khorgos cho thấy, nâng cao năng lực thông quan chỉ là một trong những điều kiện để phát triển kinh tế cửa khẩu. Hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào khả năng tổ chức các hoạt động gắn với dòng hàng và dòng người qua biên giới như kho vận, phân phối, chế biến, thương mại, du lịch và tiêu dùng. Nếu hàng hóa chỉ đi qua địa bàn mà không phát sinh các hoạt động kinh tế bổ trợ, giá trị gia tăng giữ lại tại khu vực cửa khẩu sẽ còn hạn chế.
Trên cơ sở đó, Khorgos từng bước mở rộng từ thương mại truyền thống sang thương mại điện tử xuyên biên giới, mua sắm, du lịch và nhiều loại hình dịch vụ khác. Việc đa dạng hóa các hoạt động kinh tế góp phần thu hút doanh nghiệp, thương nhân, khách du lịch và người tiêu dùng, qua đó nâng cao hiệu quả khai thác không gian kinh tế biên giới.
Từ kinh nghiệm của Khorgos, đối với tỉnh Lạng Sơn, có thể nghiên cứu phát triển kinh tế cửa khẩu theo hướng tổng thể, đồng bộ và gắn kết chặt chẽ giữa hạ tầng cửa khẩu, logistics, thương mại, dịch vụ, sản xuất, du lịch và các hoạt động kinh tế qua biên giới. Trong đó, cửa khẩu thông minh cần được xem là một bộ phận của hệ sinh thái kinh tế cửa khẩu, góp phần không chỉ nâng cao năng lực thông quan mà còn tạo điều kiện thu hút đầu tư, phát triển dịch vụ, mở rộng không gian kinh tế và nâng cao giá trị gia tăng từ hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh. Việc phát triển kinh tế cửa khẩu vì vậy cần từng bước chuyển từ việc chủ yếu khai thác lợi thế về lưu lượng hàng hóa, phương tiện và người qua biên giới sang chú trọng hơn đến các hoạt động tạo giá trị ngay tại khu vực cửa khẩu, như logistics, phân phối, chế biến, thương mại, dịch vụ, du lịch và tiêu dùng.
Trên cơ sở đó, hình thành chuỗi hoạt động kinh tế có tính bổ trợ, hạn chế tình trạng hàng hóa chủ yếu đi qua địa bàn mà chưa tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho địa phương. Đồng thời, tiếp tục tăng cường phối hợp với Quảng Tây trong kết nối hạ tầng, tổ chức vận hành cửa khẩu, tạo thuận lợi thương mại, phát triển logistics, dịch vụ và các hoạt động hợp tác kinh tế qua biên giới; nâng cao tính đồng bộ giữa hai bên trong quy hoạch, đầu tư và khai thác khu vực cửa khẩu. Qua đó, phát huy tốt hơn vai trò của Lạng Sơn là cửa ngõ quan trọng trong kết nối thương mại Việt Nam – Trung Quốc, đồng thời tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh./.
Vũ Giang



